Hỏi đáp khởi nghiệp

Tôi hiện đang kinh doanh quán café tại một mặt bằng đi thuê, mục đích thuê ghi trong hợp đồng ban đầu là “kinh doanh quán cafe”. Tôi có kế hoạch hợp tác kinh doanh với một bên đối tác, bên đối tác sẽ sử dụng một phần diện tích khu vực này để mở lớp dạy làm bánh/vẽ/may vá. Tôi cần trao đổi gì với chủ nhà đang cho tôi thuê mặt bằng? Bên đối tác của tôi có phải ký hợp đồng thuê với chủ nhà không?

22/12/2016 10:39

1. Cơ sở pháp lý:

Luật dân sự

2. Ý kiến tư vấn
Căn cứ vào câu hỏi của anh/chị, chúng tôi hiểu rằng anh chị hiện đang có một mặt bằng kinh doanh đi thuê và hiện giờ muốn hợp tác kinh doanh với một đối tác, có sử dụng một phần diện tích mặt bằng đã thuê.

Trước hết, cần làm rõ hình thức hợp tác giữa anh/chị và bên đối tác. Có thể có 2 hình thức hợp tác: (1) anh/chị cho thuê lại một phần khu vực thuê và để bên đối tác hoạt động độc lập và (2) anh/chị và bên đối tác ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh, anh chị đóng góp vào quan hệ hợp tác bằng quyền sử dụng mặt bằng theo hợp đồng thuê với chủ nhà.

Trường hợp 1: cho thuê lại mặt bằng để bên đối tác hoạt động độc lập

Trường hợp này, anh chị sẽ trở thành bên cho thuê trong hợp đồng cho thuê lại. Vì vậy, điều đầu tiên cần xem xét là anh/chị có được quyền cho thuê lại hay không. Anh/chị cần kiểm tra lại để xem nội dung này có được quy định trong hợp đồng đã ký ban đầu giữa anh/chị và chủ nhà hay không. Nếu hợp đồng có những giới hạn nhất định về quyền cho thuê lại của bên thuê (VD: chỉ được cho thuê lại với cùng mục đích thuê ban đầu, chỉ được cho thuê lại sau khi được sự chấp thuận của chủ nhà, không được cho thuê lại), anh/chị bắt buộc phải trao đổi với chủ nhà trước khi thực hiện việc cho thuê lại. Liên quan đến mục đích cho thuê lại không giống với mục đích thuê ban đầu, theo quy định Luật Dân sự, việc sử dụng tài sản thuê phải đúng mục đích như đã thỏa thuận, đồng thời việc cho thuê lại tài sản thuê cần phải có sự đồng ý của chủ nhà cho thuê. Trong trường hợp này, anh/chị hiện đang thuê mặt bằng với mục đích cụ thể là “kinh doanh quán cafe”, vì vậy, khi anh/chị muốn cho thuê lại  một phần diện tích để mở lớp dạy làm bánh/vẽ/may vá là không đúng với mục đích thuê ban đầu, chủ nhà có thể chấm dứt hợp đồng thuê với anh/chị.

Vì vậy, trước khi tiến hành việc sử dụng một phần diện tích để thực hiện công việc khác, anh/chị cần trao đổi với chủ nhà để được chấp thuận cho mượn hoặc cho thuê lại tài sản thuê, hoặc sử dụng diện tích thuê vào mục đích khác được hay không. Sau khi có ý kiến đồng ý của chủ nhà, anh/chị và đối tác có thể cân nhắc ký kết hợp đồng cho thuê lại.

Trường hợp 2: anh/chị đóng góp vào hợp đồng hợp tác kinh doanh với đối tác bằng quyền sử dụng mặt bằng theo hợp đồng thuê

Theo đó, hai bên ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh và thực hiện dự án hợp tác đó tại khu vực thuê, một trong những tài sản anh/chị đóng góp vào quan hệ hợp tác này là quyền sử dụng mặt bằng tại khu vực thuê. Trường hợp này bản chất không phải là việc cho thuê lại khu vực thuê, nên về cơ bản không cần phải xem xét đến việc anh/chị có được cho thuê lại hay không. Tuy nhiên, do có liên quan đến mục đích sử dụng khu vực thuê, để đảm bảo nhận được sự cho phép và hỗ trợ của chủ nhà, anh/chị vẫn nên trao đổi trước với chủ nhà về mục đích và kế hoạch hoạt động tại khu vực thuê.

Theo quy định của Luật Đầu tư, hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa hai bên cần có những nội dung chính sau đây:

Luật đầu tư

Điều 29. Nội dung hợp đồng BCC

1. Hợp đồng BCC gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

a) Tên, địa chỉ, người đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia hợp đồng; địa chỉ giao dịch hoặc địa chỉ nơi thực hiện dự án;

b) Mục tiêu và phạm vi hoạt động đầu tư kinh doanh;

c) Đóng góp của các bên tham gia hợp đồng và phân chia kết quả đầu tư kinh doanh giữa các bên;

d) Tiến độ và thời hạn thực hiện hợp đồng;

đ) Quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng;

e) Sửa đổi, chuyển nhượng, chấm dứt hợp đồng;

g) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, phương thức giải quyết tranh chấp.

2. Trong quá trình thực hiện hợp đồng BCC, các bên tham gia hợp đồng được thỏa thuận sử dụng tài sản hình thành từ việc hợp tác kinh doanh để thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

3. Các bên tham gia hợp đồng BCC có quyền thỏa thuận những nội dung khác không trái với quy định của pháp luật.

Đặc biệt, trong trường hợp của anh/chị, cần chú ý những vấn đề sau:

- Tài sản và cách thức đóng góp tài sản của các bên trong hợp đồng: cần ghi rõ ràng toàn bộ các tài sản mà các bên đóng góp vào công việc hợp tác kinh doanh: ví dụ như quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đồ đạc có sẵn tại cửa hàng, tài sản đối tác đóng góp thêm, v.v. Tất cả các tài sản đóng góp đều phải được ghi rõ giá trị, số lượng vào thời điểm đóng góp, đồng thời các bên cần có biên bản giao nhận tài sản đóng góp khi thực hiện, đồng thời phải thỏa thuận về cách thức xử lý tài sản khi kết thúc hợp đồng hợp tác.

- Quyền và nghĩa vụ của các bên hợp tác: cần nêu rõ tracgs nhiệm của từng bên khi tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, nêu rõ từng công việc mà từng bên phụ tracgs cũng như quy định rõ thời gian thực hiện,quyền hạn và trách nhiệm của từng bên trong quá trình điều hành quản lý công việc, xử lý các công việc phát sinh bên ngoài thỏa thuận. Song song đó, các bên cần thỏa thuận rõ ràng quyền lợi của từng bên khi thực hiện công việc hợp tác, được hưởng quyền lợi cụ thể gì và khi nào được hưởng.

- Cách thức phân chia lãi lỗ: để xác định được lãi lỗ trong hợp tác kinh doanh, cần xác định rõ các loại doanh thu thu được từ hai hoạt động kinh doanh: từ hoạt động kinh doanh cửa hàng café và hoạt động mở lớp dạy học. Liệu hai loại doanh thu có hợp nhất làm một để chia theo tỉ lệ đóng góp tài sản hay sẽ tách riêng và không chia?

- Cách thức điều hành, quản lý công việc hợp tác: cần xác định cách thức điều hành, phân công thẩm quyền ra quyết định các công việc kinh doanh, đồng thời phân công quản lý các công việc khác.

Chấm dứt hợp đồng và các vấn đề liên quan đến thanh lý hợp đồng, phân chia tài sản và cách thức giải quyết tranh chấp nếu có: cần nêu rõ các trường hợp chấm dứt hợp đồng hợp tác, đồng thời quy định các nội dung về phạt vi phạm và/hoặc bồi thường thiệt hại  trong trường hợp một trong hai bên vi phạm hợp đồng. Sau khi chấm dứt hợp đồng, việc phân chia tài sản đã đóng góp cũng phải được quy định rõ ràng tránh những mâu thuẫn xung đột không đáng có. Đồng thời, một phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp cho những tranh chấp có thể phát sinh cũng là vô cùng cần thiết.

* Nội dung các câu trả lời không phản ánh quan điểm của VIAC

Share Post
MỘT SỐ TIN TỨC KHÁC
    Đăng ký nhận tin thư từ VIAC