Giải quyết tranh chấp bằng Trọng Tài thương mại

1. Các hình thức trọng tài
2. Tại sao nên lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp thương mại?
3. Thuật ngữ “thương mại” trong lĩnh vực trọng tài là gì?
4. Có nhất thiết phải có một thỏa thuận trọng tài để giải quyết tranh chấp bằng trọng tài?
5. Các loại thỏa thuận trọng tài?
6. Phạm vi của một thỏa thuận trọng tài?
7. Các yếu tố cơ bản của một thỏa thuận trọng tài?
8. Thế nào là một điều khoản trọng tài khiếm khuyết?
9. Thế nào là các tranh chấp có khả năng giải quyết bằng trọng tài?
10. Cần cân nhắc đến điều gì ở một trung tâm trọng tài?

1. Các hình thức trọng tài

Trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là trọng tài vụ việc (hay còn gọi là trọng tài ad hoc) và trọng tài thường trực (hay còn gọi là trọng tài quy chế).

(i) Trọng tài vụ việc:

Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết vụ việc và sẽ chấm dứt tồn tại khi giải quyết xong vụ việc đó. Bản chất của trọng tài vụ việc được thể hiện qua các đặc trưng cơ bản sau:

- Được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự chấm dứt hoạt động khi giải quyết xong tranh chấp.

- Không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành, không có danh sách trọng tài viên. Trọng tài viên được các bên chọn hoặc chỉ định có thể là người có tên trong hoặc ngoài danh sách trọng tài viên của bất kỳ trung tâm trọng tài nào.

- Quy tắc tố tụng của trọng tài vụ việc để giải quyết vụ tranh chấp có thể do các bên thỏa thuận xây dựng hoặc lựa chọn từ bất kỳ một quy tắc tố tụng nào của các trung tâm trọng tài.

Trọng tài vụ việc tuy được quy định trong Luật trọng tài thương mại 2010 nhưng chưa phát triển trên thực tế, một phần vì nếu lựa chọn sử dụng trọng tài vụ việc, các bên phải tự thực hiện toàn bộ quy trình với hội đồng trọng tài mà không có sự hỗ trợ bởi một Ban thư ký thường trực và vì vậy cần có kinh nghiệm tham gia tố tụng trọng tài trước đó.

(ii) Trọng tài thường trực (trọng tài quy chế):

Trọng tài thường trực (trọng tài quy chế) là hình thức trọng tài được tổ chức chặt chẽ, có bộ máy, trụ sở làm việc thường xuyên, thường có danh sách trọng tài viên hoạt động theo điều lệ và quy tắc tố tụng riêng. Hầu hết các tổ chức trọng tài lớn, có uy tín trên thế giới đều được thành lập theo mô hình này dưới những tên gọi như trung tâm trọng tài, ủy ban trọng tài, viện trọng tài, hội đồng trọng tài quốc gia và quốc tế... nhưng chủ yếu và phổ biến được tổ chức dưới dạng các trung tâm trọng tài.

Quay về đầu trang

2. Tại sao nên lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp thương mại?

Có hai lý do quan trọng chính: đầu tiên là tính trung lập; thứ hai là khả năng thi hành phán quyết. Về "tính trung lập", trọng tài quốc tế cho các bên cơ hội lựa chọn một địa điểm "trung lập" và một hội đồng trọng tài "trung lập" để giải quyết tranh chấp của họ. Về "khả năng thi hành phán quyết", một vụ tranh chấp trọng tài quốc tế, nếu được diễn ra trọn vẹn, đưa tới một phán quyết bắt buộc thi hành đối với bên thua không chỉ tại quốc gia nơi phán quyết đó được lập mà còn trên phạm vi toàn cầu.

Ngoài ra, có một số lý do khác góp phần đưa trọng tài trở thành một phương thức giải quyết tranh chấp hấp dẫn thay thế cho tố tụng tại tòa án, trong đó ít nhất có bốn ý quan trọng sau: Tính linh hoạt, tính bảo mật, trọng tài viên có thẩm quyền bổ sung và thẩm quyền trọng tài có tính liên tục.

Quay về đầu trang

3. Thuật ngữ “thương mại” trong lĩnh vực trọng tài là gì?

Những nhà soạn thảo Luật Mẫu đã cân nhắc việc đưa ra đinh nghĩa về thuật ngữ "thương mại",nhưng sau đó họ đã từ bỏ ý đinh này. Thay vào đó, trong một chú thích, họ đưa ra quan điểm như sau:

Thuật ngữ "thương mại" nên được giải thích theo nghĩa rộng để có thể bao hàm các vấn đề phát sinh từ tất cả các quan hệ có bản chất thương mại, dù có quan hệ hợp đồng hay không. Các quan hệ có bản chất thương mại bao gồm, nhưng không bị giới hạn bởi, các giao dịch sau: bất kỳ giao dịch nào về mua bán hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; môi giới; cho thuê; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li xăng; đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc nhượng quyền khai thác; liên doanh hoặc các hình thức hợp tác kinh doanh khác; vận chuyển hàng hóa hoặc hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt hoặc đường bộ.

Quay về đầu trang

4. Có nhất thiết phải có một thỏa thuận trọng tài để giải quyết tranh chấp bằng trọng tài?

Có. Muốn sử dụng phương thức trọng tài thì một thỏa thuận trọng tài có hiệu lực là bắt buộc phải có. Đó là cơ sở để hình thành nên thẩm quyền giải quyết tranh chấp của một Hội đồng Trọng tài. Chức năng quan trọng nhất của một thỏa thuận trọng tài, trong bối cảnh hiện nay, là chỉ ra một cách rõ ràng rằng các bên thực sự đồng ý giải quyết tranh chấp của họ bằng trọng tài. Sự chấp thuận này là yếu tố quan trọng: bởi không có điều này sẽ không có tố tụng trọng tài hợp lệ.

Quay về đầu trang

5. Các loại thỏa thuận trọng tài?

Một "thỏa thuận trọng tài" thường được thể hiện dưới dạng một điều khoản trọng tài trong hợp đồng. Chức năng của điều khoản trọng tài là chỉ rõ các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng rằng bất cứ tranh chấp nào phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng sẽ được đưa đến giải quyết tại trọng tài mà không phải là Tòa án. Điều khoản trọng tài được soạn thảo và thống nhất như một phần của hợp đồng trước khi tranh chấp phát sinh, do đó điều khoản này hướng tới các tranh chấp có thể xảy ra trong tương lai. Các bên đương nhiên không muốn có tranh chấp phát sinh, nhưng đồng ý rằng nếu có tranh chấp thì tranh chấp đó sẽ được giải quyết tại trọng tài, không phải Tòa án.

Có một dạng thỏa thuận trọng tài thứ hai, ít phổ biến hơn, đó là thỏa thuận trọng tài được lập ra khi tranh chấp đã phát sinh. Đây thường được coi là "thỏa thuận đưa tranh chấp ra trọng tài". Thỏa thuận này thường phức tạp hơn điều khoản trọng tài - bởi một khi tranh chấp đã phát sinh, các bên có thể lựa chọn thành viên của hội đồng trọng tài, chỉ rõ tranh chấp và xác đinh các bên muốn giải quyết tranh chấp đó như thế nào.

Ngoài hai loại thỏa thuận trên còn có một loại thứ ba, được gọi là "thỏa thuận trọng tài dự kiến", được cho là phát sinh từ các văn kiện pháp lý quốc tế, như hiệp định đầu tư song phương (BIT) ký kết bởi hai quốc gia. Một đặc điểm của các hiệp định này là mỗi quốc gia trong hiệp định đồng ý đưa bất cứ tranh chấp nào có thể phát sinh trong tương lai giữa họ và một "nhà đầu tư" ra trọng tài. "Nhà đầu tư" này không phải là một bên trong hiệp định. Thực tế, nhà đầu tư chưa được xác định tại thời điểm hiệp định được ký kết. Khi "thỏa thuận trọng tài dự kiến" nói trên có hiệu lực, nó thiết lập một "đề nghị có tính ràng buộc" bởi quốc gia có liên quan về việc giải quyết bất cứ tranh chấp "đầu tư" nào tại trọng tài. Nhiều nhà đầu tư đã nhanh chóng tận dụng những lợi thế mà "đề nghị" này mang lại.

Quay về đầu trang

6. Phạm vi của một thỏa thuận trọng tài?

Một thỏa thuận trọng tài trao cho hội đồng trọng tài quyền hạn giải quyết tất cả các tranh chấp nằm trong phạm vi của thỏa thuận đó. Một điều quan trọng là trọng tài viên không được hành động vượt quá quyền hạn này của mình.

Nhìn chung, có ba loại yêu cầu khởi kiện có thể nằm trong phạm vi của một thỏa thuận trọng tài. Đó là:

  • Yêu cầu khởi kiện phát sinh từ hợp đồng (bao gồm cả những yêu cầu phụ đối với hợp đồng, ví dụ như yêu cầu xác định số tiền phải thanh toán - quantum merit);
  • Yêu cầu khởi kiện ngoài hợp đồng; và
  • Yêu cầu khởi kiện được quy định bởi pháp luật

Quay về đầu trang

7. Các yếu tố cơ bản của một thỏa thuận trọng tài?

Đầu tiên, phải có một thỏa thuận trọng tài hợp lệ. Đặc biệt, phải làm rõ là, giống như trong các điều khoản mẫu, các bên có ý định giải quyết bất kỳ hoặc toàn bộ các tranh chấp phát sinh giữa họ bằng trọng tài. Phần sau của chương này sẽ giới thiệu một số ví dụ về điều khoản lỗi khi mà các bên không làm rõ được ý chí của mình.

Trong một vụ kiện trọng tài quốc tế, số trọng tài viên nên là số lẻ và nhìn chung nhiều nhất ba người là đủ. Một số hệ thống chỉ yêu cầu chỉ đinh hai trọng tài viên, cùng với một "người phân xử" hay "trọng tài" để phân xử giữa hai trọng tài viên khi họ không thể thống nhất với nhau, có thể phù hợp với một số vụ kiện trọng tài trong một hiệp hội giao thương và hàng hóa xác đinh, nhưng sẽ là không khả thi đối với các vụ kiện trọng tài quốc tế nói chung.

Tiếp nữa, là việc thành lập hội đồng trọng tài.

Liệu hội đồng trọng tài sẽ là trọng tài vụ việc hay quy chế là một trong những quyết đinh quan trọng nhất mà các bên phải đưa ra - và hiển nhiên bị buộc phải đưa ra tại một thời điểm không thích hợp.

Địa điểm trọng tài là một quyết định rất quan trọng khác mà các bên phải đưa ra. Địa điểm này sẽ xác đinh quốc gia nơi tiến hành tố tụng trọng tài và luật của quốc gia này sẽ điều chỉnh quá trình tố tụng trọng tài.

Hợp đồng của các bên nên có một điều khoản chọn luật và họ cũng nên có một điều khoản rõ ràng như vậy đối với luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài. Trong vụ Sulamérica,[1] Tòa Phúc thẩm Anh đã tuyên rằng khi các bên không có lựa chọn minh thị về luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài, lựa chọn luật điều chỉnh hợp đồng chính sẽ là một "chỉ dẫn thuyết phục" rằng họ muốn áp dụng cùng một luật này đối với thỏa thuận trọng tài. Khi hợp đồng không bao gồm một "điều khoản chọn luật" (hoặc thỏa thuận trọng tài không phải là một phần trong hợp đồng), tòa án sẽ chuyển sang cân nhắc lựa chọn của các bên về địa điểm trọng tài để quyết đinh xem luật nào thỏa thuận trọng tài có "mối liên hệ thực sự và mật thiết nhất".

Về ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài, Điều 20 Quy tắc ICC quy định rõ ràng rằng, "nếu không có thỏa thuận bởi các bên, Hội đồng Trọng tài sẽ quyết định ngôn ngữ hoặc các ngôn ngữ được sử dụng trong quá trình tố tụng trọng tài, có cân nhắc đầy đủ đến tất cả các hoàn cảnh liên quan, bao gồm cả ngôn ngữ của hợp đồng".

__________

[1] Vụ Sulamérica CIA Nacional de Seguros SA v Enesa Engenharia SA [2012] EWCA Civ 638. Quyết định của Tòa Phúc thẩm trong vụ Sulamérica gần đây đã được làm theo bởi Tòa Cấp cao trong vụ Habas Sinai Ve Tibbi Gazlar Istihsal Endustrisi AS v VSC Steel Co. Ltd [2013] EWHC 4071 (Comm).

Quay về đầu trang

8. Thế nào là một điều khoản trọng tài khiếm khuyết?

Các khiếm khuyết chủ yếu trong một điều khoản trọng tài bao gồm lỗi thiếu nhất quán, thiếu rõ ràng và thiếu tính khả thi. Các lập luận về việc liệu một thỏa thuận trọng tài bao gồm một hoặc nhiều lỗi như trên có thể được nêu ra, chẳng hạn như khi một bên tiến hành tố tụng tại một tòa án quốc gia về một tranh chấp và bị đơn yêu cầu đình chỉ quá trình tố tụng này trên cơ sở có tồn tại một thỏa thuận trọng tài. Trong những tình huống như vậy, đơn yêu cầu đình chỉ có thể bị phản đối trên cơ sở thỏa thuận trọng tài "không còn hoạt động hoặc không thể thực hiện được.

Quay về đầu trang

9. Thế nào là các tranh chấp có khả năng giải quyết bằng trọng tài?

Ngay cả khi đã tồn tại một tranh chấp thì vẫn là chưa đủ, mà đó còn phải là một tranh chấp mà, theo Công ước New York, "có khả năng giải quyết được bằng trọng tài". Quan điểm rằng một tranh chấp có thể không "có khả năng giải quyết được bằng trọng tài" không nhằm chỉ trích các trọng tài viên hay quá trình tố tụng trọng tài. Trọng tài viên có (hoặc nên có) "khả năng" như thẩm phán khi giải quyết tranh chấp. Nhưng pháp luật quốc gia có thể quy đinh một số tranh chấp nhất đinh phù hợp để được xét xử tại Tòa án công hơn là trọng tài tư. Ví dụ, pháp luật của một số quốc gia có thể coi một tranh chấp về tình trạng hôn nhân không thuộc phạm vi giải quyết của trọng tài - dù chính xác hơn nếu nói là tranh chấp này "không được phép" giải quyết bằng trọng tài.

Quay về đầu trang

10. Cần cân nhắc đến điều gì ở một trung tâm trọng tài?

Tính ổn định. Các tranh chấp giữa các bên thường xảy ra rất lâu sau khi thỏa thuận đã được lập, đặc biệt là về những dự án lớn (ví dụ như việc xây dựng đập nước hoặc đường cao tốc) hoặc những hợp đồng dài hạn (như hợp đồng cung ứng khí đốt hóa lỏng kéo dài trong nhiều năm). Việc quan trọng là trung tâm trọng tài được lựa chọn trong thỏa thuận trọng tài phải là một trung tâm có thật[1] và vẫn còn tồn tại khi tranh chấp phát sinh[2]; nếu nó không còn tồn tại thì thỏa thuận trọng tài có thể trở nên, theo cách viết của Công ước New York, "không hiệu quả và không thể thực hiện được". Trong trường hợp đó, cơ quan giải quyết tranh chấp duy nhất các bên có thể nhờ trợ giúp (nếu có) sẽ là Tòa án quốc gia (điều mà thỏa thuận trọng tài được xây dựng để tránh phải xảy ra).

Quy tắc trọng tài mới. Thực tiễn hoạt động trọng tài quốc tế có nhiều thay đổi nhanh chóng trong những năm gần đây, với những luật, quy tắc và các thủ tục mới được vận dụng. Quy tắc của các trung tâm trọng tài không thể được giữ nguyên theo thời gian. Các quy tắc này phải được cập nhật để phù hợp với thực tiễn tố tụng trọng tài. Sẽ rất khó để có một cơ chế trọng tài hoạt động hiệu quả theo những quy tắc được xây dựng từ rất lâu trước đó. Các bên được quyền mong chờ việc quy tắc của các trung tâm trọng tài được xem xét lại và, nếu cần thiết, sửa đổi đinh kỳ[3].

Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp. Một số trung tâm trọng tài trực tiếp tham gia vào tổ chức quá trình tố tụng trọng tài theo quy tắc của họ; một số khác lại để hội đồng trọng tài giải quyết các vấn đề trong khi chỉ để ý đến quy trình trọng tài nói chung. Bất kể vai trò của trung tâm trọng tài là gì, họ cần những nhân viên chuyên nghiệp - và thường phải là những người sử dụng được nhiều ngoại ngữ. Họ thường có nhiều nhiệm vụ, bao gồm không chỉ giải thích quy tắc, đảm bảo thời hạn giải quyết tranh chấp, thu phí, lo liệu vấn đề thị thực và đặt trước địa điểm cho phiên họp, mà còn phải tư vấn thủ tục phù hợp cho tranh chấp dựa vào kinh nghiệm làm việc của mình.

Chi phí hợp lý. Một số trung tâm trọng tài ấn đinh chi phí hành chính và các khoản phí, chi phí cho hội đồng trọng tài, bằng thang đối chiếu là dựa trên giá tri vụ tranh chấp (bao gồm giá tri của đơn kiện lại). Điều này mang lại ưu điểm về sự chính xác, khi các bên có thể xác đinh ngay từ đầu về tổng chi phí phải chi trả cho quá trình trọng tài. Tuy nhiên, điều này có thể làm các trọng tài viên có kinh nghiệm không hài lòng nếu giá tri vụ tranh chấp không lớn hoặc quá trình giải quyết tranh chấp diễn ra trong khoảng thời gian dài. Một số trung tâm khác, ví dụ như LCIA, ấn đinh chi phí hành chính và các khoản phí, chi phí cho các trọng tài viên dựa trên thời gian họ phải dành cho vụ tranh chấp (với những giới hạn về mức tối thiểu và tối đa, trong hạn mức đã bao gồm chi phí cho các trọng tài viên).

_______________________________

[1] Có không ít những trung tâm trọng tài giả mạo. Năm 2002, Citibank bắt đầu nhận được những bức thư yêu cầu họ phải giải quyết tranh chấp tại trọng tài theo quy định của "Tòa trọng tài quốc gia" (NAC), một dịch vụ kiện trọng tài mà thực tế được lập ra bởi một người có mâu thuẫn với ngân hàng Citibank không tham gia vào bất cứ "thủ tục trọng tài" nào, nhưng khách hàng của ngân hàng nhận được một "phán quyết" về giá trị khoản nợ của họ cộng thêm chi phí cho NAC. Citibank cuối cùng đã phải xin lệnh của Tòa chống lại NAC để ngăn chặn hành vi này: xem Rau, "Thẩm quyền của trọng tài và mức độ "tự nguyện"" (2008) 24 Arb Intl, at n.19.

[2] Trong vụ việc giữa Suzhou Canada Solar Inc. và LDK Solar Co. Ltd, tháng 5/2013, chi tiết không được ghi lại là Tòa án Trung Quốc từ chối công nhận hiệu lực của một phán quyết được đưa ra bởi chi nhánh Thượng Hải của Ủy ban Trọng tài Kinh tế và Thương mại quốc tế Trung Quốc (CIETAC) bởi chi nhánh này rời khỏi CIETAC để thành lập một trung tâm trọng tài độc lập, với lý do rằng các bên đã không thỏa thuận để tranh chấp của họ được giải quyết tại một trung tâm trọng tài khác so với trung tâm đã được lựa chọn trong hợp đồng của họ.

[3] UNCITRAL xuất bản Quy tắc sửa đổi năm 2010; ICC công bố quy tắc mới có hiệu lực từ ngày 01/01/2012, sau quá trình tham vấn công khai. Các trung tâm khác cũng làm điều tương tự: Quy tắc Thụy Sỹ được cập nhật năm 2012, cũng như Quy tắc SIAC và Quy tắc của Trung tâm Trọng tài quốc tế Hong Kong năm 2013. Để biết việc xem xét các quy tắc được sửa đổi của ICC, UNCITRAL, CIETAC và Trung tâm Trọng tài quốc tế Vienna (VIAC), xem các bài viết trong (2012) 15(6) Intl Arb L Rev. Quy tắc LCIA, được cập nhật từ ngày 01/01/1998, cũng đã được sửa đổi, với Quy tắc mới có hiệu lực vào ngày 01/10/2014.

Quay về đầu trang

Đăng ký nhận tin thư từ VIAC