Góc nhìn trọng tài viên

Rủi ro trong thương mại quốc tế: Những suy ngẫm từ thực tiễn

09/08/2017 10:48

Sau 30 năm đổi mới, các Doanh nghiệp Việt Nam đã lớn mạnh, vững vàng và bản lĩnh hơn trên trường Quốc tế. Chúng ta đã học được nhiều từ thực tế của quá trình hội nhập và phát triển. Rủi ro thương trường trên bình diện Quốc tế là cái giá không nhỏ chúng ta phải trả. Tuy nhiên vẫn còn nhiều điều cần nêu ra trong việc ngăn ngừa hiểm họa cho các doanh nghiệp cả ở góc độ người bán lẫn người mua.

Xét về mặt rủi ro trong Thương mại quốc tế, có thể chia ra hai giai đoạn của 30 năm đổi mới: Giai đoạn trước năm 2000Giai đoạn năm 2000 đến nay.

  • Gian đoạn đầu, các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu trong bối cảnh tất cả đều thiếu, nhất là vốn hoạt động. Lúc này, rủi ro chủ yếu thuộc về đối tác nước ngoài.

Là người đi vay bằng hình thức nhập khẩu nguyên liệu sản xuất, hàng tiêu dùng trả chậm ngắn hạn (doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp Quốc doanh) để tích tụ tư bản, sinh lời, họ phải dựa vào vốn ngân hàng, kể cả bảo lãnh nhập khẩu. Ngân hàng thương mại lúc bấy giờ còng lưng để cõng cả doanh nghiệp Trung ương lẫn địa phương. Kênh huy động vốn qua tín dụng thương mại trên cơ sở bảo lãnh ngân hàng đã được Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phát huy tối đa, nhằm hỗ trợ các địa phương trong những năm cuối thập niên 80, đầu 90. Vietcombank dưới áp lực của nền kinh tế địa phương, đã có lúc “gãy gánh nợ” bởi L/C quá hạn, uy tín ngày càng giảm. Hệ lụy là các nhà xuất khẩu nước ngoài, nhất là Nhật Bản chịu rủi ro càng lớn.

Tuy nhiên, do nắm về thể chế chính trị và cơ chế điều hành kinh tế của Việt Nam, các nhà xuất khẩu hiểu được bản chất của rủi ro: do người mua thiếu vốn, ngân hàng và nhà nhập khẩu đều là doanh nghiệp nhà nước, chỉ mới làm quen nền kinh tế thị trường… Do vậy, họ đã hành động theo cách hợp lý nhất, đó là gây áp lực đối với các quan chức địa phương (thậm chí cả Trung ương) và Ngân hàng Nhà nước để buộc phía Việt Nam trả nợ.

Tôi còn nhớ một sự kiện hy hữu. Năm 1990, một công ty của Nhật bán hàng cho công ty tại thành phố Hồ Chí Minh bằng L/C trả chậm do ngân hàng lớn phát hành. Đã quá hạn rất lâu, công ty đòi nợ cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng nhưng không thành công. Một lần họ đến ngân hàng gặp vị Phó Giám đốc phụ trách thanh toán xuất nhập khẩu. Thật không may cho vị lãnh đạo này là đang trong tâm lý căng thẳng vì áp lực trả nợ thì công ty Nhật lại đổi thêm dầu vào lửa, ông ta đã có một buổi làm việc căng thẳng và thái độ không được mềm mỏng, khôn khéo. Sự thiếu kiềm chế đó đưa dẫn đến quyết định của phía chủ nợ: bay ra Hà Nội xin gặp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước để phản ánh sự việc trên.  Kết cục buồn là vị Phó Giám đốc đó phải ra đi.

Các ngân hàng thương mại trong giai đoạn này, đặc biệt là những năm sau đổi mới 1987, luôn mang nặng ý thức và tâm lý (trên thực tế như vậy): là ngân hàng quốc dân, hoạt động vì sự phát triển kinh tế của Trung ương và địa phương, khó khăn về thanh toán cũng chính là khó khăn chung lúc bấy giờ của đất nước. Họ là bề nổi của sự rệu rã từ nền kinh tế chưa thoát khỏi cơ chế Kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp. Do vậy, chẳng có gì mà sợ mất uy tín và muốn lấy lại thanh danh cũng không thể. Các ngân hàng thương mại trên thế giới đã quyết định không chiết khấu chứng từ theo L/C do ngân hàng Việt Nam phát hành, bởi sự rủi ro quá lớn. Thời kỳ đó, việc nhà xuất khẩu nước ngoài tự đi đòi nợ nhà nhập khẩu và ngân hàng phát hành L/C là chuyện gần như đương nhiên.

Về phía nhà xuất khẩu Việt Nam, giai đoạn này hiểu như không chịu rủi ro nào về thanh toán bởi đã có đảm bảo bằng L/C của ngân hàng nước ngoài. Hơn nữa, nước ta lúc đó chủ yếu là nhập siêu, xuất khẩu còn nhỏ lẻ, manh mún.

  • Giai đoạn sau, từ thập niên đầu của Thế kỷ 21, lại là chuyện gần như ngược lại. Nền kinh tế Việt Nam phát triển mạnh, trong đó đầu tư FDI tăng cao, kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục đạt mức kỉ lục.

Các doanh nghiệp đã qua thời kỳ tích lũy tư bản, nguồn vốn lớn từ xã hội được đầu tư trực tiếp vào doanh nghiệp hay qua kênh ngân hàng thương mại. Thị trường Việt Nam có sức thu hút mạnh, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, doanh nghiệp tăng nhanh, cạnh tranh sôi động trên cơ sở tự do kinh doanh. Hệ thống ngân hàng nhà nước qua nhiều thăng trầm, đã ổn định và giành được vị thế vững vàng trong nước và trên trường quốc tế.

Doanh nghiệp ta đã trưởng thành về nhiều mặt trong đó có cạnh tranh trong thương mại quốc tế. Tuy nhiên, có giao dịch thương mại là có rủi ro. Nhưng rủi ro giai đoạn này khác với thời kỳ sau đổi mới, đó là phần lớn được chuyển từ đối tác nước ngoài, sang các nhà xuất nhập khẩu Việt nam. 

Doanh nghiệp Việt Nam hầu như không nhập khẩu hàng trả chậm vì không cần nguồn vốn thương mại và Ngân hàng Nhà nước cũng xiết chặt cơ chế bảo lãnh này. Các ngân hàng thương mại thực thi nghiêm túc các chuẩn mực của thông lệ quốc tế trong bảo lãnh và thanh toán.

Đặc điểm của rủi ro mà doanh nghiệp ta hứng chịu là sự lừa đảo có tính chất quốc tế, hay sự gian lận thương mại và gian dối của nhà xuất nhập khẩu nước ngoài. Tâm lý của nhiều doanh nghiệp là nỗ lực bán được hàng, giải phóng tồn kho và dễ tin vào đối tác, xem nhẹ yếu tố phòng ngừa rủi ro. Do vậy, họ chú trọng vào công tác tiếp thị, khai thác thị trường, cạnh tranh… bỏ lơi công tác điều tra, nghiên cứu đối tác mà vốn dĩ nó đòi hỏi nhiều thời gian và thông tin, đặc biệt là thông tin từ nước bản địa.

Có rất nhiều hình thức lừa đảo, gian lận, cả trong giao dịch xuất khẩu và nhập khẩu, nhưng ta sẽ tránh được nếu nắm rõ đối tác. Các doanh nghiệp không có thói quen bay sang tận nơi để “thị sát” hoạt động kinh doanh của đối tác dẫn đến sai lầm, tin ở các giao dịch thông thường.

Một trong rất nhiều cạm bẫy đối tác “giương ra” là chuyển tiền 30% ứng trước, để doanh nghiệp ta tin tưởng, giao hàng 100% theo phương thức DA/DP hoặc trả trước 70%, còn lại sẽ thanh toán sau khi nhận hàng. Kết quả kẻ lừa đảo lấy chứng từ nhận hàng và tự… giải tán. Ngay cả khi ta nhập khẩu hàng bằng L/C, tiền phải trả để có bộ chứng từ nhận hàng, nhưng đó là những công-ten-nơ toàn... rác. Làm sao mà khiếu nại vì chúng là những tên lừa đảo? Bọn chúng lập trang thông tin điện tử để lừa đảo sau khi nghiên cứu kỹ công ty Việt Nam. Thương mại điện tử rất dễ bị lợi dụng nếu không điều nghiên đối tác, và trong thực tế rất nhiều nạn nhân là doanh nghiệp chúng ta. Rồi nữa, ngay cả nhà xuất khẩu đề nghị mở L/C bọn chúng cũng đồng ý. Nhưng L/C chỉ là hình thức bởi có điều khoản vô hiệu hóa trách nhiệm thanh toán của ngân hàng phát hành, nhưng người bán Việt Nam vẫn đồng ý giao hàng. Kết cục, bọn lừa đảo nhận hàng vì có B/L gửi theo hàng nhưng từ chối thanh toán. Ngân hàng miễn trách nhiệm và gửi trả lại chứng từ.

Nghiên cứu một số vụ lừa đảo, điểm nổi bật là doanh nghiệp quá tin người, tin đến mức ấu trĩ. Họ bỏ qua việc điều nghiên đối tác, khi thấy “hời” trong doanh số và đơn giá là bỏ qua yếu tố rủi ro. Có công ty xuất khẩu bất kể cảnh báo của ngân hàng về rủi ro trong điều khoản L/C, không yêu cầu đối tác sửa đổi mà cứ giao hàng. L/C chỉ là tờ giấy không hơn không kém nếu có điều kiện đặc biệt loại bỏ nghĩa vụ ngân hàng. Hợp đồng thương mại cũng sơ sài, bất lợi cho phía Việt Nam nhưng vẫn kí và thực hiện, từ đó tạo điều kiện để phía nước ngoài giao hàng không như mong muốn, gây ra kiện tụng mà phía ta là kẻ thua kiện.

Trong 2016, một kẻ lừa đảo đã khuynh đảo thị trường thủy sản Việt Nam, bằng những cú lừa nhập khẩu thủy sản từ gần chục doanh nghiệp trong VASEP. Điều nổi bật là mánh lời lừa đảo khá chính thống, nhưng vẫn có giá trị hơn triệu USD.

Do vậy, yếu tố con người quyết định tất cả, con người ở đây là đối tác nước ngoài. Khi ta xử lý tốt khâu điều nghiên thì đây sẽ là chìa khóa mở ra sân chơi rộng lớn song vẫn phải luôn lưu ý các cạm bẫy. Nếu đối tác trung thực, thiện chí, mọi vấn đề nhỏ lẻ cơ bản đều được giải quyết nhanh gọn và an toàn.

Vai trò ngân hàng trong tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu là rất quan trọng nhưng đây lại là điểm yếu cố hữu của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Sự lớn mạnh và uy tín của ngân hàng không chỉ là thực thể qua vốn, mạng lưới… mà còn là qua khả năng làm “thượng đế” hài lòng. Các ngân hàng thương mại của ta chưa bao giờ cùng doanh nghiệp sang tận nước nhập khẩu gặp ngân hàng đại lý và nhà nhập khẩu để giải quyết vấn đề thanh toán hay lấy lại hàng hóa để bán trên thị trường mỗi khi bị từ chối. Một ngân hàng thương mại, khi nhận chứng từ đủ điều kiện thanh toán lại bị trả về, thông báo công ty xuất khẩu đến nhận: “Trách nhiệm trả tiền là của ngân hàng phát hành, nhưng họ như vậy, dù chúng tôi đã hết sức để bảo vệ doanh nghiệp, cũng đành chịu”.  Lời giải thích đó đã thể hiện khả năng hỗ trợ nhà xuất khẩu như thế nào?

Điều quan trọng nhất trong hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu là cung cấp thông tin các đối tác nước ngoài. Các ngân hàng lớn như Vietcombank, Vietinbank, BIDV đều đáp ứng tốt nhu cầu này cho doanh nghiệp qua hệ thống ngân hàng đại lý quốc tế nhưng chi phí khá cao. Ngân hàng nhà nước cũng có kênh thông tin về doanh nghiệp nước ngoài phục vụ các ngân hàng thương mại. Như thế các điều kiện là rất “cần”, nhưng chưa “đủ” mà phải có sự quan tâm khai thác của Doanh nghiệp Việt Nam. Nhưng chúng ta đã không làm được điều này, để rồi ôm lấy rủi ro mà lẽ ra không đáng có. Phải chăng đây là cái giá của việc kinh doanh thiếu bài bản, thiếu tính chuyên nghiệp và mang tính phiên lưu?

Ông Nguyễn Trọng Thùy - Trọng tài viên VIAC

Share Post
MỘT SỐ TIN TỨC KHÁC
  • “Áp trần” hạn mức giải ngân trực tiếp: Khó cho cả ba bên 11/04/2019 10:04

    Cơ quan quản lý Nhà nước sẽ khó kiểm tra, giám sát và quan trọng hơn là khó đạt được mục tiêu đẩy lùi “tín dụng đen”; các Công ty tài chính (CTTC) bị bó hẹp phạm vi và phương thức hoạt động còn khách hàng có nhu cầu thì khó tiếp cận nguồn vốn.

  • Rút đề xuất sửa Luật Đất đai: Tiếc nuối tấm áo chật chưa kịp thay 11/04/2019 10:00

    Việc tạm rút dự án Luật Đất đai ra khỏi Chương trình xây dựng Luật năm 2019 sẽ ít nhiều gây ra sự hụt hẫng cho người dân, nhà đầu tư - những người đang kỳ vọng, chờ đợi Luật được sửa đổi.

  • Bao giờ doanh nghiệp không cần dấu? 11/04/2019 08:51

    Quy định doanh nghiệp không cần con dấu trong dự thảo Luật Doanh nghiệp sửa đổi rất khó được áp dụng khi vẫn còn tư duy thích quản lý.

  • Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp: Chủ trương tốt nhưng... chưa đủ 10/04/2019 09:45

    Ngoài việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, cần gia tăng những giải pháp hỗ trợ để nâng cao năng lực cạnh tranh thực sự của doanh nghiệp.

  • Thêm chất xúc tác cho M&A ngân hàng 08/04/2019 09:03

    Áp lực phải tăng cường năng lực tài chính để đáp ứng các quy định như chuẩn Basel 2, chiến lược phát triển ngành Ngân hàng… đã khiến không ít NHTM tính đến phương án mua bán - sáp nhập (M&A).

  • Sửa Thông tư 43: Cả khách hàng lẫn công ty tài chính đều chịu thiệt? 08/04/2019 08:58

    Theo luật sư Trương Thanh Đức, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), cần phải hết sức cân nhắc sử dụng các biện pháp nhằm giới hạn việc phát triển tín dụng tiêu dùng của Công ty tài chính...

  • Sức mạnh của doanh nghiệp là vị thế, sức mạnh của quốc gia 04/04/2019 09:49

    Cần đổi mới tư duy về vai trò và chức năng của Nhà nước, vì còn rất nhiều rào cản cần gỡ bỏ, hay nói đúng hơn, còn nhiều dư địa để thúc đẩy phát triển kinh tế.

  • Thế và lực của dầu khí - Góc nhìn chuyên gia 03/04/2019 17:14

    Ngành Dầu khí đang đối mặt với rất nhiều khó khăn: trữ lượng dầu suy giảm; cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt; giá dầu ở mức thấp kéo dài… Trong khi đó, cơ chế quản lý ngành Dầu khí bộc lộ nhiều bất cập, không còn phù hợp thực tiễn…Phóng viên Báo Năng lượng Mới đã có cuộc trao đổi với các chuyên gia kinh tế, luật gia về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo động lực phát triển cho doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) nói chung và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) nói riêng. 

    Đăng ký nhận tin thư từ VIAC