Góc nhìn trọng tài viên

Thi hành thỏa thuận hòa giải thành tại Việt Nam: Đi trước xu hướng quốc tế?

18/12/2017 17:48

Nguyễn Mạnh Dũng | Luật sư điều hành Dzungsrt & Associates, Trọng tài viên VIAC
Đặng Vũ Minh Hà | Công ty luật Dzungsrt & Associates
Ngày 24 tháng 2 năm 2017, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về Hòa giải Thương mại (sau đây gọi là "Nghị định 22" hoặc “Nghị định”). Đây chính là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên quy định cụ thể về hòa giải thương mại tại Việt Nam. Nghị định được xây dựng dựa trên Luật Mẫu của UNCITRAL về Hoà giải Thương mại Quốc tế năm 2002 ("Luật mẫu của UNCITRAL") với những bổ sung, điều chỉnh phù hợp với các quy định pháp luật và thực tiễn tại Việt Nam. Ngay từ quá trình soạn thảo, Nghị định đã thu hút sự chú ý của các chuyên gia và những người hành nghề luật không chỉ ở Việt Nam mà còn cả cộng đồng quốc tế.

Bên cạnh đó, trong thời gian gần đây Việt Nam cũng mới ban hành một cơ chế hiệu quả để thi hành các thỏa thuận hòa giải thành – một trong những vấn đề quan trọng nhất của việc giải quyết tranh chấp bằng hoà giải. Theo đó, thỏa thuận hòa giải thành được đảm bảo thi hành bởi các quy định về công nhận kết quả hòa giải ngoài tòa án (thỏa thuận hòa giải thành) tại Chương 33 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sau đây gọi là "BLTTDS").

Ở cấp độ quốc tế, Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam - Liên minh Châu Âu ("EVFTA"), vốn được coi là Hiệp định Thương mại Tự do toàn diện và tham vọng nhất mà Liên minh Châu Âu từng ký kết với một nước đang phát triển, cũng đóng một vai trò đáng kể trong tiến trình xây dựng cơ chế hòa giải trong việc giải quyết tranh chấp giữa hai Chính phủ và tranh chấp giữa nhà đầu tư và Chính phủ

Vậy, liệu các khuôn khổ pháp lý này có tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển của hòa giải thương mại tại Việt Nam?

Tranh chấp được giải quyết bằng hòa giải thương mại

Hòa giải là một lĩnh vực khá mới đối với các nhà lập pháp tại Việt Nam. Do vấn đề hòa giải trước đây chưa được quy định cụ thể trong bất cứ văn bản nào nên Nghị định 22  chịu ảnh hưởng đáng kể bởi Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 (sau đây gọi là "Luật Trọng tài Thương mại"). Cụ thể, tương tự như phạm vi áp dụng của Luật Trọng tài thương mại, Nghị định 22 quy định việc hòa giải chỉ được áp dụng đối với các tranh chấp có tính chất thương mại, tranh chấp mà trong đó có ít nhất một bên tham gia vào hoạt động thương mại hoặc tranh chấp mà pháp luật quy định là được giải quyết bằng hòa giải thương mại. Theo luật Việt Nam, "hoạt động thương mại" là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Hiện tại, chỉ có tranh chấp nằm trong phạm vi này mới có thể được giải quyết bằng hòa giải thương mại. Mặc dù phạm vi áp dụng Nghị định này hẹp hơn trong Luật Mẫu của UNCITRAL, nhưng đã bao gồm gần như tất cả các tranh chấp thương mại phổ biến hiện nay. Ngoài ra, phạm vi áp dụng dự kiến sẽ được mở rộng trong thời gian sắp tới với sự sửa đổi Luật Thương mại của Việt Nam cũng như các văn bản pháp luật nội dung khác. Các văn bản pháp luật sửa đổi sẽ chỉ định cụ thể các loại tranh chấp khác được giải quyết thông qua hòa giải.

Tiêu chuẩn của hòa giải viên, thực tiễn hoạt động của hòa giải viên nước ngoài và sự hiện diện của các tổ chức hòa giải nước ngoài tại Việt Nam

Nghị định 22 đặt ra các tiêu chuẩn khá nghiêm ngặt đối với các hòa giải viên. Cụ thể, ngoài các tiêu chuẩn chung về đạo đức, hòa giải viên phải có trình độ đại học trở lên và đã qua thời gian công tác trong lĩnh vực được đào tạo từ hai năm trở lên. Hơn nữa, các hòa giải viên phải có kỹ năng hòa giải cũng như hiểu biết pháp luật, kiến thức về thực tiễn kinh doanh và thương mại. Các tiêu chuẩn này tương tự như các tiêu chuẩn áp dụng cho các trọng tài viên theo Luật Trọng tài Thương mại. Mặc đưa ra các tiêu chuẩn rất khắt khe, Nghị định 22 vẫn thiếu một hệ thống đánh giá tiêu chuẩn hòa giải viên.

Nghị định về Hòa giải Thương mại thúc đẩy sự phát triển của cả hòa giải quy chế và hòa giải vụ việc. Theo đó, hoà giải viên có thể chọn gia nhập vào danh sánh hòa giải viên của trung tâm hòa giải hoặc hành nghề độc lập như một hòa giải viên vụ việc hoặc hoạt động với cả hai tư cách .

Mặc dù không có hạn chế rõ ràng về quốc tịch của hòa giải viên song Nghị định 22 cũng đưa ra một rào cản kỹ thuật, yêu cầu các hòa giải viên vụ việc phải đăng ký với Sở Tư pháp nơi họ sinh sống. Điều này khiến cho cơ hội của các hòa giải viên nước ngoài hành nghề độc lập tại Việt Nam bị giới hạn. Do đó, việc lựa chọn một hòa giải viên phù hợp đôi khi trở thành một nhiệm vụ khó khăn đối với các bên tranh chấp cũng như luật sư của họ bởi lẽ những người đáp ứng các yêu cầu của pháp luật có thể không có nhiều kỹ năng và kinh nghiệm bằng những hòa giải viên được công nhận quốc tế. Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của Luật Trọng tài Thương mại và để phù hợp với cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, Nghị định 22 cũng khuyến khích các tổ chức hòa giải nước ngoài mở chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam. Ngoài ra, chi nhánh của các trung tâm hòa giải quốc tế có thể lập danh sách hòa giải viên của họ với điều kiện các hòa giải viên này phải đáp ứng các tiêu chuẩn chung được quy định trong Nghị định. Chúng tôi hy vọng rằng các quy định này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức hòa giải quốc tế trong việc gia nhập thị trường cung cấp dịch vụ hòa giải tại Việt Nam.

Công nhận thỏa thuận hòa giải thành

Khả năng thi hành thỏa thuận hòa giải thành có thể được coi là yếu tố quan trọng nhất để tạo nên sự thành công của phương thức hòa giải. Theo đó, để đảm bảo khả năng thi hành của các thỏa thuận hòa giải thành, pháp luật Việt Nam đã ban hành cơ chế công nhận các thỏa thuận này bằng việc chuyển các kết quả này thành bản án của tòa án.

Một mặt, thỏa thuận hòa giải thành được lập bằng văn bản có giá trị pháp lý và có tính ràng buộc đối với các bên tranh chấp theo quy định của luật dân sự. Mặt khác, theo Nghị định 22 và Chương 33 của BLTTDS, một hoặc các bên trong thỏa thuận hòa giải thành có thể nộp đơn lên tòa án để yêu cầu toà án công nhận thỏa thuận này. Sau khi được công nhận, thỏa thuận hòa giải thành có thể được thi hành như một bản án đầy đủ và cuối cùng của tòa án và được thi hành theo Luật thi hành án dân sự Việt Nam. Tuy nhiên, cơ chế công nhận này chỉ áp dụng cho các thỏa thuận hòa giải thành được lập nên trên cơ sở thủ tục hoà giải được thực hiện theo quy định của Nghị định 22. Do đó, kết quả của quá trình hoà giải được tiến hành bởi trung tâm hòa giải nước ngoài như Trung tâm Hòa giải Quốc tế Singapore (SIMC), Trung tâm cung cấp dịch vụ giải quyết tranh chấp thương mại ngoài tòa án Châu Âu (CEDR), v.v... sẽ không thuộc đối tượng áp dụng của các quy định nói trên.

Các quy định pháp luật của Việt Nam tương tự với Chỉ thị 2008/52/EC của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu ngày 21 tháng 5 năm 2008 về một số khía cạnh của hòa giải trong các vấn đề dân sự và thương mại, đặc biệt là Điều 6 về khả năng thi hành của các kết quả từ quá trình hòa giải.

Với những quy định này, Việt Nam hiện đang đi đầu trong xu hướng quốc tế mới về việc thi hành thỏa thuận hòa giải thành. Trong tương lai, xu hướng này có thể trở thành một văn bản pháp luật, nhiều khả năng là dưới dạng một công ước quốc tế, về thi hành kết quả hoà giải thành trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế. Công ước này có thể có tác động tương tự như Công ước New York năm 1958 về Công nhận và Cho thi hành Phán quyết trọng tài nước ngoài. Dự thảo Công ước này hiện đang là chủ đề thảo luận chính trong Nhóm công tác II của UNCITRAL (Chương trình làm việc của Nhóm công tác II của UNCITRAL http://www.uncitral.org/uncitral/en/commission/working_groups/2Arbitration.html truy cập vào ngày 15 tháng 5 năm 2017).

Hòa giải trong lĩnh vực đầu tư

Bên cạnh việc xây dựng khung pháp lý cho hòa giải thương mại, bằng việc ký kết Hiệp định EVFTA, Việt Nam đã tham gia vào một trong những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nhằm thúc đẩy và cụ thể hoá việc giải quyết tranh chấp đầu tư thông qua hòa giải. Theo các quy định của Hiệp định EVFTA, vào bất kỳ thời điểm nào trong quá trình giải quyết tranh chấp giữa nhà nước và nhà đầu tư, bất kỳ bên tranh chấp nào cũng có thể mời bên còn lại tiến hành hòa giải theo thủ tục được quy định trong hiệp định.

Các quy định cụ thể về hòa giải trong EVFTA chứng tỏ sự quan tâm đặc biệt của các nhà lập pháp ở châu Âu và Việt Nam đến việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, trong bối cảnh hòa giải dần trở thành một xu hướng giải quyết tranh chấp mới được ưa chuộng trên thế giới. Do đó, chúng tôi tin rằng xu hướng này cũng sẽ ảnh hưởng tích cực và tiếp tục thúc đẩy sự phát triển của hòa giải thương mại ở Việt Nam.

Kết luận

Rõ ràng, cả hòa giải thương mại và hòa giải trong lĩnh vực đầu tư ở Việt Nam đều nhận được sự quan tâm của các nhà lập pháp. Hiện tại, cả hai cơ chế đều đang được đặt trong một khuôn khổ pháp lý ổn định và đây sẽ là nền tảng cho sự phát triển của hai cơ chế này trong tương lai. Mặc dù có những hạn chế nhất định, văn bản pháp luật mới sẽ đưa hòa giải ở Việt Nam tiến gần hơn với tiêu chuẩn của quốc tế và khiến cho hòa giải trở thành một phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả trong cộng đồng doanh nghiệp. Ngoài ra, chúng tôi hy vọng rằng văn bản pháp luật mới về hòa giải sẽ thực sự hỗ trợ chứ không phải là một phương pháp cạnh tranh với trọng tài, vì hòa giải sẽ nâng cao ý thức sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp đa tầng và tăng cường các chính sách ủng hộ các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế của Chính phủ Việt Nam. Bởi vậy, chúng tôi tin rằng hòa giải sẽ phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam trong tương lai gần nhờ khung pháp lý mới với các điều kiện thuận lợi cũng như sự hỗ trợ nhiệt tình từ tòa án và Chính phủ Việt Nam.

Theo Kluwer Arbitration Blog | Nguyen Manh Dzung (Dzungsrt & Associates LLC ) and Dang Vu Minh Ha(Dzungsrt & Associates LLC) | July 2, 2017

Share Post
MỘT SỐ TIN TỨC KHÁC
  • Lo ngại luật cho toà án nước ngoài vào xử tranh chấp trong đặc khu 20/06/2018 11:41

    Dự thảo Luật Đặc khu được tiếp tục thảo luận và đưa ra biểu quyết thông qua trong kỳ họp tiếp theo. Điều 7 dự thảo luật này quy định "giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh" đang đưa đến nhiều lo ngại về việc trao quyền tài phán cho tòa án nước ngoài.

  • Sẽ mạnh tay với sở hữu chéo 19/06/2018 16:40

    Ngày 1/6/2015, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Thông tư số 06/2015/TT-NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng phối hợp cổ đông, nhóm cổ đông liên quan sở hữu cổ phần vượt giới hạn quy định tại Điều 55, Luật Các tổ chức tín dụng 2010 phải giải quyết trước 31/12/2015. Vậy nhưng, cho đến nay, tình trạng sở hữu chéo vẫn chưa được giải quyết triệt để.

  • CPTPP: Hết sợ nhưng hãy còn lo 13/06/2018 10:57

    CPTPP là sự tiếp nối của các thành công trước đây của các FTA mà Việt Nam đã ký, cho nên nó không quá mới, mà là sự kế thừa và phát triển của chính sách mở cửa và hội nhập suốt mấy mươi năm qua, đúng như nhận định của ông Trần Quốc Khánh, Thứ trưởng Bộ Công Thương, Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ về thương mại và kinh tế quốc tế. 

  • 05 lời giải cho những bất cập từ các dự án BOT 11/06/2018 09:21

    Theo Bộ Giao thông-Vận tải, nhu cầu vốn đầu tư của ngành giao thông vận tải giai đoạn 2016-2020 cần khoảng hơn 1 triệu tỷ đồng, trong khi ngân sách dự kiến chỉ cân đối khoảng 11%. Do vậy, việc huy động nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng giao thông theo hình thức Hợp đồng xây dựng-kinh doanh-chuyển giao (BOT) là chủ trương đúng đắn nhằm huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, đặc biệt là hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông.

  • Doanh nghiệp cần chủ động phòng vệ thương mại trong sân chơi hội nhập 07/06/2018 14:27

    Điển hình một số vụ việc có tác động tiêu cực đến sản xuất của doanh nghiệp trong nước, như: Mỹ điều tra áp dụng biện pháp tự vệ với pin năng lượng mặt trời, thép cán nguội và thép carbon chống mòn, tôm, cá da trơn...; Australia điều tra chống bán phá giá với dây thép; Canada điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với sản phẩm khớp nối bằng đồng của Việt Nam… 

  • Trạm thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ vẫn cần duy trì khoảng cách tối thiểu 22/05/2018 11:27

    Mới đây, lãnh đạo Bộ Giao thông - Vận tải (GT - VT) cho biết, Thông tư 49/2016/TT-BGTVT về trạm thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ không quy định khoảng cách tối thiểu giữa hai trạm là 70km, vì vậy khi sửa đổi Thông tư 49 cũng không đặt ra vấn đề này. Dù vậy, những lùm xùm tại các trạm thu giá BOT hiện nay đòi hỏi phải sớm làm rõ cơ sở khoa học của khoảng cách 70km - được quy định tại Thông tư 159/2013 của Bộ Tài chính.

  • Đánh thuế tài sản thời điểm này là không hợp lý 22/05/2018 11:24

    Mức đánh thuế đất nông nghiệp hiện nay cũng cao nhưng người dân còn “chịu đựng được” thì không nên sửa đổi còn nếu xem xét thấy thật sự cần thiết thì phải cân nhắc và không nên đánh thuế nhà thành một sắc thuế riêng độc lập. Hiện nay, trung bình mỗi hộ gia đình có một ngôi nhà hoặc nhiều hộ ở chung một nhà. Nếu đánh thuế vào nhà như vậy thật sự không công bằng, làm cho người dân cảm thấy bức xúc. 

  • Lớp bồi dưỡng về kiến thức Hội nhập Kinh tế Quốc tế năm 2018 22/05/2018 08:31

    Chiều ngày 17/05/2018, Viện Phát triển nguồn lực - Trường Đại học Trà Vinh phối hợp với Trung tâm Tư vấn Dịch vụ Đầu tư và Thương mại – Trường Cao đẳng Kinh tế đối ngoại TP. Hồ Chí Minh tổ chức lớp bồi dưỡng về kiến thức Hội nhập Kinh tế Quốc tế năm 2018 cho cán bộ đoàn viên, hội viên; cán bộ, công chức, viên chức đang công tác tại các Sở ban ngành tỉnh Trà Vinh; giảng viên, viên chức của Trường Cao đẳng nghề Trà Vinh, Trường Cao đẳng Y tế Trà Vinh và Trường Đại học Trà Vinh.

    Đăng ký nhận tin thư từ VIAC