Góc nhìn trọng tài viên

Lạm phát 2018 trong tầm kiểm soát

11/07/2018 10:49
6 tháng đầu năm 2018, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã liên tục có mức tăng cao so với các tháng trước. 
Nhiều chuyên gia cảnh báo cần phải hết sức lưu ý và theo dõi diễn biến của CPI để có thể kiểm soát lạm phát như mục tiêu đề ra. Xung quanh vấn đề này, ĐTTC có cuộc trao đổi với TS. TRẦN DU LỊCH (ảnh), thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC).
PHÓNG VIÊN: - Thưa ông, CPI 6 tháng đầu năm 2018 tăng 3,29% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này có làm gia tăng thêm áp lực đối với mục tiêu kiểm soát lạm phát cả năm 2018 ở mức 4% được Quốc hội đề ra trước đó?
Lạm phát 2018 trong tầm kiểm soát ảnh 1
TS. TRẦN DU LỊCH: - Đúng là theo số liệu của Tổng cục Thống kê, CPI tháng 6-2018 tăng 0,61% so với tháng trước, tăng cao nhất trong 7 năm qua. CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2018 tăng 3,29% so với bình quân cùng kỳ năm 2017. Tuy nhiên, lạm phát cơ bản tháng 6-2018 tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 1,37% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng đầu năm 2018 tăng 1,35% so với bình quân cùng kỳ năm 2017.
Ở đây cần phân biệt sự khác nhau của CPI và lạm phát cơ bản. CPI 6 tháng đầu năm do chịu tác động của nhiều yếu tố như tăng giá lương thực, xăng dầu, dịch vụ công. Quốc hội giao chỉ tiêu không quá 4% so với năm trước là chỉ tiêu CPI.
Trước đây, CPI được tính so với tháng 12 năm trước, nhưng hiện nay chúng ta tính CPI bằng bình quân cả năm so với cùng kỳ. Do đó không có nghĩa hiện nay CPI tăng 3,29%, thì phần còn lại trong mục tiêu 4% là mức còn lại của 6 tháng cuối năm vì bình quân mỗi tháng có thể thay đổi. 
Trong điều hành kinh tế vĩ mô, chúng ta quan tâm nhiều đến lạm phát cơ bản, tức là yếu tố tiền tệ không bao gồm yếu tố bên ngoài. Thật sự lạm phát cơ bản ở mức như vậy không phải là cao, có thể kiểm soát được, nên cũng không lo lắng nhiều về lạm phát cơ bản.
Bởi NHNN cũng không nới lỏng chính sách tiền tệ, tăng nóng tín dụng. Còn lại vấn đề tỷ giá, dù đang xoay quanh mức 23.000 đồng/USD, nhưng NHNN cũng đang can thiệp để không xảy ra biến động mạnh. Vì vậy không nên quá lo lắng để gây ra yếu tố tâm lý, vì lạm phát còn chịu tác động từ yếu tố tâm lý.
Về phía Chính phủ, vấn đề quan trọng trong 6 tháng cuối năm cần phải tập trung chủ yếu vào việc kiểm soát giá dịch vụ công, không để tăng giá như điện, y tế, giáo dục… để bảo đảm lạm phát ở mức dưới 4%. Dĩ nhiên điều này cũng đã được Chính phủ dự liệu.
- Gần đây xuất hiện một số lo ngại chu kỳ lạm phát tăng cao như 10 năm trước, ý kiến của ông như thế nào?
- Tôi cho rằng không có chu kỳ này. Bởi những yếu tố biến động về giá cả trong giai đoạn lạm phát cao, và nền kinh tế suy giảm tăng trưởng của những năm 2010-2011 (gọi là “kỳ lạm”), mới xuất hiện nguy cơ để lo lắng. Còn hiện nay kinh tế tăng trưởng tốt 7% thì không có yếu tố “kỳ lạm”, nên không đáng lo ngại.
Thật sự năm nay tăng trưởng kinh tế quý III, quý IV không bằng quý I và quý II năm trước, nhưng cũng ở mức như Chính phủ dự báo là 6,7-6,8%, còn CPI cố gắng kiểm soát dưới 4% so với cùng kỳ. Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như vậy là đạt được. 
Đồng thời, 6 tháng cuối năm cũng chưa thấy có yếu tố nào biến động lớn. Các kịch bản điều hành của Chính phủ cũng dự liệu những yếu tố có thể có biến động lớn, và cho đến nay những dự báo đưa ra hoàn toàn có thể kiểm soát được các vấn đề vĩ mô.
Vì vậy tôi cho rằng, CPI và lạm phát 6 tháng tăng là vấn đề cần phải cảnh báo, nhưng cho tới thời điểm này cũng không có yếu tố nào vượt mức kiểm soát của Chính phủ, cũng chưa có dấu hiệu nào cho thấy sẽ có nguy cơ lạm phát cao như nhiều năm trước.
- Trong kịch bản điều hành, Chính phủ đưa ra những giải pháp nào để ứng phó với lạm phát, thưa ông?
- Thứ nhất về yếu tố tiền tệ, vẫn kiểm soát tín dụng ở mức 17% theo mục tiêu đề ra. NHNN cũng đang siết tín dụng đối với những lĩnh vực rủi ro để không tăng tín dụng đột biến. Bên cạnh đó, NHNN thực hiện nhiệm vụ ổn định được tỷ giá. Đó là công cụ để kiểm soát lạm phát.
Thứ hai về điều hành, Chính phủ không điều chỉnh giá dịch vụ công như giá điện, y tế, dịch vụ…
Thứ ba xây dựng kịch bản về vấn đề mới là chiến tranh thương mại. Bởi lẽ điều này sẽ ảnh hưởng đến thị trường và tâm lý thị trường, nên những kịch bản ứng phó vấn đề chiến tranh thương mại đang diễn ra giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đang được thực hiện. 
Có thể nói, rủi ro lớn nhất về vĩ mô trong những tháng cuối năm là tác động từ chiến tranh thương mại Hoa Kỳ và Trung Quốc. Hiện nay, đồng Nhân dân tệ giảm giá, ảnh hưởng nhập khẩu thương mại. Mặc dù chưa có biến động gì trong thương mại, nhưng đây là điều phải lo vì khi có sự thay đổi cán cân thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, sẽ tác động đến Việt Nam, nên cần phải tính toán. 

 Tỷ giá gây nhiều áp lực trong điều hành

Về yếu tố bên ngoài, giá hàng hóa nhiên liệu đã tăng khá nhanh, như giá dầu brent từ đầu năm tới nay đã tăng trên 24%. Về yếu tố nội tại bên trong, năm nay dự kiến Việt Nam cũng sẽ tiếp tục lộ trình điều chỉnh giá một số mặt hàng cơ bản. Cuối năm ngoái giá điện đã được điều chỉnh tăng, sang năm nay giá xăng dầu cũng điều chỉnh theo và tháng 5 vừa rồi điều chỉnh 2 lần, một số mặt hàng khác khác như y tế giáo dục cũng sẽ được điều chỉnh tăng.
Trong khi đó, áp lực đối với tỷ giá cũng ở mức độ cao hơn so với năm ngoái. Năm ngoái đồng USD đã mất khoảng gần 10%, nhưng từ đầu năm tới nay đồng tiền này đã tăng hơn 2%, điều này tạo ra áp lực đối với tỷ giá USD/VNĐ. Việc Hoa Kỳ tiếp tục tăng lãi suất cũng như tăng trưởng của các nền kinh tế lớn nhất thế giới tương đối khả quan, sẽ kéo theo khả năng USD tăng giá thay vì mất giá như năm ngoái, gây áp lực cho VNĐ. Do đó, năm nay nếu chúng ta giữ được lạm phát ở mức 4% là thành công. 
Tuy nhiên, để duy trì được mức lạm phát mục tiêu chúng ta sẽ phải rất quyết liệt, như tiến độ tăng giá một số mặt hàng phải xem xét để có lộ trình phù hợp, phối hợp giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, giá cả để đảm bảo CPI không tăng nhanh và bùng phát vào những thời điểm như cuối năm.
Trong bối cảnh hiện nay, khi lạm phát tăng lên sẽ khiến cho việc giảm lãi suất cho vay khó khăn hơn. Nguyên nhân do lãi suất đồng USD tại HoaKỳ tiếp tục tăng lên, trong nước thì áp lực lạm phát khá lớn, nhu cầu huy động vốn của nền kinh tế để hướng đến mục tiêu tăng trưởng tín dụng đạt 17% nên rất khó giảm lãi suất đầu vào. Điều này khiến giảm lãi suất đầu ra khó khăn hơn.

TS. CẤN VĂN LỰC, chuyên gia Kinh tế

Theo Yên Lam Báo Sài Gòn Đầu tư đăng ngày 09/07/2018

Share Post
MỘT SỐ TIN TỨC KHÁC
  • Vì sao hàng loạt dự án đầu tư công dễ dàng “đội vốn” sai quy định? 12/07/2018 18:28

    Lý giải về nguyên nhân đội vốn ở các dự án đầu tư công, nhiều chuyên gia pháp lý đều cho rằng lỗi không hoàn toàn do cơ chế và những “lỗ hổng” của hệ thống chính sách pháp luật. Vậy thì còn những nguyên nhân nào khác? Bài viết sau đây sẽ trả lời câu hỏi này (bài viết thể hiện quan điểm góc nhìn của các Luật sư và chuyên gia).

  • Truy thu gần 2.300 tỷ từ giao dịch liên kết "nhập nhằng" 12/07/2018 18:23

    “Chúng tôi đề nghị Bộ KH&ĐT nghiên cứu, báo cáo Chính phủ cơ chế kiểm soát để hạn chế DN FDI lỗ luỹ kế, lỗ mất vốn nhưng vẫn tiếp tục đầu tư mở rộng để hưởng ưu đãi thuế. Ngoài ra, Bộ KH&ĐT cần hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin đồng bộ về DN FDI để phục vụ việc tổng hợp, đánh giá, giám sát hiệu quả, kịp thời”, đại diện Bộ Tài chính đề nghị.

  • Đề xuất về "người nước ngoài góp ít vốn" Chuyên gia nói gì? 10/07/2018 18:42

    Nếu muốn quy định mức vốn tối thiểu của NNN đầu tư vào Việt Nam, chúng ta cần phải cân nhắc nhiều mặt. Nên nhớ rằng Việt Nam đã hội nhập rất sâu rộng với hàng loạt các FTA và dĩ nhiên là có rất nhiều cam kết quốc tế. Cần phải xem xét việc quy định như vậy có phân biệt đối xử giữa đầu tư trong nước và nước ngoài hay không, có đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong đầu tư hay không. 

  • Chuyện rất kì quặc nhưng cứ diễn ra phổ biến 09/07/2018 20:55

    "Hàng đổi hàng bao giờ cũng lệch lạc về giá trị vì không thông qua đồng tiền và do mỗi bên đều có thước đo về giá trị khác nhau. Đây là điều rất lệch lạc", ông Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Trọng tài viên VIAC khái quát.

  • Thực thi các bản án bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật 06/07/2018 11:14

    Trao đổi tại hội thảo chuyên đề vừa qua tại Hà Nội, Luật sư Tưởng Duy Lượng, nguyên Phó Chánh án TAND tối cao, Trọng tài viên trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) cho biết: Trong một thế giới phẳng, thông tin nhanh nhạy, đa chiều, việc thi hành phán quyết chậm trễ, kéo dài không hiệu quả sẽ khiến các nhà đầu tư nước ngoài e ngại làm ăn với Việt Nam. 

  • Vẫn “vấn vương” tư duy bao cấp? 04/07/2018 11:04

    Nhà nước can thiệp vào thị trường đến đâu để vừa thúc đẩy thị trường cạnh tranh vừa bảo đảm cạnh tranh hiệu quả, tức là phải tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng, an toàn hơn, luôn là bài toán khó cho các cơ quan quản lý và đương nhiên, không thể làm hài lòng tất cả. Bởi mỗi giai đoạn lại xuất hiện những khó khăn, những nhân tố mới mà không phải lúc nào chúng ta cũng kịp xử lý.

  • Phạm vi thu hồi đất rộng có thể gây nên khiếu kiện và tham nhũng? 02/07/2018 16:26

    Gửi tham luận tới Hội thảo Pháp luật và thực tiễn về tiếp cận đất đai của doanh nghiệp tại Việt Nam do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức, ông Hùng cho rằng còn nhiều bất cập trong Luật đất đai hiện tại, điều này có thể tạo điều kiện cho tình trạng tham nhũng, và khiếu kiện.

  • Chính phủ Việt Nam làm gì để không bị kiện? 26/06/2018 16:42

    Luật sư Châu Huy Quang, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) chia sẻ thêm về những rủi ro pháp lý, như vừa qua ông có hỗ trợ cho một doanh nghiệp hàng hải của nước ngoài, khi họ đang vận chuyển hơn 7 tấn dầu thì cảnh sát biển Việt Nam cho rằng đây là khu vực đặc quyền kinh tế Việt Nam (ở Quảng Nam). Sau đó, cảnh sát biển dùng nghiệp vụ là hai tàu đánh cá để tiếp cận chặn tàu nước ngoài và bảo rằng anh đang có hành vi sang mạn dầu trái phép rồi ra quyết định tịch thu dầu. 

    Đăng ký nhận tin thư từ VIAC